Chủ Nhật, 2 tháng 8, 2015

Secure Switch

NetSec - Layer 2 Security Issues & Prevention




1. TẤN CÔNG TRÀN BẢNG CAM

1.1.1. Giới thiệu

Bảng CAM là vùng nhớ trong RAM của switch dùng để lưu các ánh xạ giữa địa chỉ MAC nguồn của các PC, thiết bị mạng và port trên switch, VLAN ID mà các thiết bị đó kết nối vào mạng. Kích thước của CAM là có giới hạn tùy thuộc vào các dòng switch khác nhau. Dữ liệu trong bảng CAM được switch xây dựng qua quá trình học địa chỉ, duy trì trong quá trình họat động và sẽ bị xóa đi sau 1 khoảng thời gian timeout hoặc khi switch khởi động lại.


Hình bên trên mô tả kiểu tấn công làm tràn bảng CAM trên switch. Kẻ tấn công dùng một phần mềm để gửi đến switch thật nhiều gói tin mà mỗi gói tin có một địa chỉ MAC nguồn khác nhau. Theo nguyên tắc họat động của switch, khi nhận một gói tin mà địa chỉ MAC nguồn của gói tin không có trong bảng CAM thì switch sẽ thêm địa chỉ MAC này vào bảng CAM ứng với port nhận gói tin tới. Như vậy, nếu trong một thời gian ngắn mà switch nhận được một số lượng lớn các gói tin như thế thì bộ nhớ CAM sẽ bị đầy và switch không thể học thêm địa chỉ MAC từ bất cứ máy nào gửi gói tin đến. Khi bảng CAM bị tràn switch sẽ broadcast các gói tin mà nó nhận được ra tất cả các port còn lại ( họat động tương tự như Hub ). Lúc này kẻ tấn công có thể thấy gói tin của các máy gửi cho nhau trong mạng nhờ vào các công cụ sniffer.

1.1.2. Phòng chống tấn công tràn bảng CAM

Để phòng chống kiểu tấn công này ta sử dụng tính năng port-security trên các dòng switch catalyst của Cisco.

Nguyên lý họat động của port-security là :
Giới hạn số địa chỉ MAC mà switch có thể học tối đa trên mỗi port
Xác định các địa chỉ MAC hợp lệ được phép hoạt động trên mỗi port.
Khi switch nhận được một gói tin có MAC nguồn không có trong bảng CAM thì switch sẽ kiểm tra thêm số MAC tối đa của port, danh sách MAC hợp lệ của port rồi mới quyết định có thêm địa chỉ MAC mới vào bảng CAM hay không.
Nếu một port vi phạm các điều kiện trên thì switch có thể thực thi các hàng động được qui định trong cấu hình như shutdown port, drop packets, …. Bảng bên dưới mô tả các chế độ hoạt động của port sau khi phát hiện sự vi phạm các điều kiện đã cấu hình của port-security.
Ta có thể cấu hình tính năng port-security aging để switch tự động xóa các địa chỉ MAC đã được học động và học lại các địa chỉ MAC mới sau một khỏang thời gian cố định hay sau một khỏang thời gian switch không nhận được dữ liệu từ địa chỉ MAC nguồn trong bảng CAM.
Các loại địa chỉ MAC được định nghĩa trong port-security
Static secure MAC : là các địa chỉ MAC được nhập vào cấu hình của switch bằng lệnh switchport port-security mac-address MAC, địa chỉ MAC này được lưu vào bảng CAM và trong file cấu hình của switch
Dynamic secure MAC : là các địa chỉ MAC được học tự động, được lưu trong bảng CAM và sẽ bị mất khi switch khởi động lại
Sticky secure MAC : là các địa chỉ MAC được học tự động, được lưu trong bảng CAM và trong file cấu hình của switch. Ta có thể chuyển dynamic MAC sang Sticky MAC.
Lưu ý: đối với Static MAC và Sticky MAC, mặc dù chúng được lưu trong file cấu hình nhưng chỉ là running-config, người quản trị phải lưu cấu hình vào startup-config để các địa chỉ MAC này vẫn được sử dụng trong các lần switch khởi động lại.

1.1.3. Cấu hình port-security

Dưới đây là các bước cơ bản cấu hình tính năng port-security trên switch Cisco:




1.2. VLAN HOPPING

VLAN Hopping là dạng tấn công mà kẻ tấn công gửi các gói tin đến các VLAN mà người dùng bình thường không được phép truy cập đến các VLAN này.

1.2.1. VLAN Hopping bằng đánh lừa Switch (Switch Spoofing )

Attackers sử dụng một máy tính có cài phần mềm giả lập biến máy tính này thành một Switch và bật tính năng Trunking trên Switch giả này. Nếu port kết nối với máy tính này trên Switch thật có bặt tính năng Auto trunking (default setting) thì Switch giả trên sẽ trở thành một thành viên của tất cả các VLAN. Khi đó máy tính của Attacker có thể liên lạc được với mọi VLAN trong hệ thống.


Hoặc Hacker có thể dùng 1 Switch gắn vào hệ thống Switch bằng port có các tính năng Auto Trunking (DTP) hoặc cấu hình trunking theo 1 giao thức nào đó.

Cách ngăn chặn Switch Spoofing :
Cách tốt nhất để chống Switch spoofing là tắt tính năng trunking trên tất cả các port ngoại trừ port dùng để nối đến các switch khác ( sử dụng lệnh switchport mode access trên các port không phải là trunk port). Trên port trunk thì cũng tắt tính năng dynamic trunnking (DTP), chỉ cấu hình trunk tĩnh.

1.2.2. VLAN Hopping bằng Double Tagging

Attacker dùng phần mềm sửa đổi frames gán 02 VLAN Tag vào Ethernet frames trước khi gửi đi. Outter Tag chứa VLAN ID của VLAN Attacker đang dùng và VLAN ID này trùng với Native VLAN của đường trunk. Khi frames giả này được gửi đi, Switch đầu tiên nhận frame này sẽ remove Outer tag và gửi nó đi đến các port thuộc Outer VLAN và kể cả đường Trunk ( nếu máy đích không có CAM table của switch này). Vì outer tag có VID trùng với native VID của đường trunk nên Switch đầu tiên không add thêm Tag nào vào frame của attacker. Khi frame này đến Switch thứ hai, Switch này xem phần Tag Inner và thấy rằng frame này cần được chuyển đến VID ghi trong inner Tag và nó chuyển frame này đến port thuộc VLAN cần tấn công hoặc floods nó nếu không có trong CAM tabe.



Cách ngăn chặn Double Tagging :
Kiểu tấn công này chỉ xảy ra khi native VLAN trên đường trunk trùng với VLAN mà attacker sử dụng để tấn công. Vì thế ta nên set native trên các đường trunk là 1 VLAN không có user nào sử dụng ( không có port vào gán vào VLAN này – unused VLAN)


1.3. Phá hoẠi cẤu hình STP

Trong kiểu tấn công này Attacker dùng một thiết bị đóng giả một switch trong hệ thống có chạy giao thức STP. Switch giả này sẽ buộc các switch khác trong hệ thống tính tóan lại STP và nó sẽ gửi các BPDUs với switch priority là nhỏ nhất để được chọn là root bridge trong hệ thống. Và từ đó mô hình loop-free bị thay đổi, một số đường link có thể bị block và toàn bộ dữ liệu đổ về switch giả của Attacker.

Cách ngăn chặn thay đổi cấu hình STP :
Sử dụng tính năng root guard và bpdu guard để không cho các switch khác giành quyền làm root bridge. Khi switch nhận gói tin BPDUs trên port đã bật tính năng guard root thì port này sẽ chuyển sang trạng thái inconsistent STP ( tương tự trạng thái listening ) và không cho phép traffic forward qua port này.
Chuyển các port sử dụng cho end-user sang trạng thái PortFast và bật tính năng STP BPDU guard ở global configuration mode. Tính năng này không cho phép các PortFast nhận các gói tin BPDUs

1.4. MAC Spoofing : man in the middle

Bằng việc sử dụng địa chỉ MAC của máy khác để thay đổi bảng CAM làm cho switch chuyển các dữ liệu có đích là máy bị tấn công về máy của kẻ tấn công.


Cách ngăn chặn MAC Spoofing :
Ta sử dụng tính năng port security trên switch để ngăn chặn các kiểu tấn công dựa trên MAC Address.
Ta có sử dụng Port security để block traffic vào các port Ethernet, FastEthernet, GigabitEthernet nếu source hoăc destination MAC Add của các thiết bị kết nối vào port không đúng với các MAC Add đã được qui định cho port đó.
Ngòai ra ta cũng có thể giới hạn số MAC Add cho phép trên switch port.

1.5. pvlan proxy attack

Mặc dù pvlan là kỹ thuật thường dùng để giới hạn giao tiếp giữa các máy trong cùng một subnet nhưng PVlan vẫn không đảm bảo an toàn tuyệt đối .Pvlan họat động bằng cách giới hạn các port trong cùng vlan giao tiếp với các port khác trong cùng vlan đó. Pvlan qui định có3 Loại port và tính chất của chúng như sau :

- Isolated port: chỉ có thể giao tiếp với promiscuous port.

- Community port: chỉ có thể giao tiếp với các community port khác và promiscuous port.

- Promiscuous port: có thể giao tiếp với bất kỳ port nào.


1.6. TẤN CÔNG VÀO DỊCH VỤ ARP

Mục đích của kiểu tấn công này là thay đổi ARP table của các thiết bị mạng và từ đó Attacker có thể điều chỉnh lại dòng dữ liệu trong lớp 2 và thường là bước mở đầu cho kiểu tấn công Man-in-the-middle. Attacker sử dụng một PC có cài phần mềm độc, máy PC này gửi các ARP reply đến các thiết bị mạng cần tấn công mặc dù nó không hề nhận được ARP request. Kết quả là nó làm thay đổi ARP table của các thiết bị khác.

Trong ví dụ bên trên, host C gửi ARP reply đến host A và Router B làm thay đổi ARP table ( tất cả đều trỏ về MAC của máy C ) và vì máy C biết rõ MAC thật của các thiết bị mà nó tấn công nên sau khi bắt được data từ các thiết bị khác gửi đến nó forward data này đến các thiết bị thật sự cần gửi đến. Như vậy host C trở thành Man-in-the-middle giám sát tòan bộ traffic mạng mà không gây ảnh hưởng đến họat động của mạng ( rất khó phát hiện ).
Cách ngăn chặn ARP Spoofing :
Kết hợp giữa DHCP Snooping và DAI để ngăn chặn kiểu tấn công trên.
DAI ( Dynamic ARP Inspection ) hoạt động tương tự như DHCP Snooping tức là qui định ra trusted và untrusted port để xác định ARP packets nào cần được giám sát.
Nếu ARP packets đến từ trusted port thì DAI sẽ không kiểm tra.
Nếu ARP packets đến từ untrusted port thì DAI sẽ kiểm tra việc map giữa MAC và IP trong gói tin ARP bằng cách so sánh với bảng map trong DHCP Server ( DHCP Snooping đã được triển khai )

Cách cấu hình DAI như sau :

1.7. TẤN CÔNG VÀO DHCP SERVER

Attacker đưa một DHCP Server vào hệ thống. DHCP Server này sẽ reply các request của Client và cung cấp cấu hình IP theo chủ ý của Attacker ( sửa default gateway, DNS để chuyển tất cả dữ liệu của Client về 1 host nào đó, cung cấp cấu hình IP sai lệch làm thay đổi cấu trúc về routing, IP policies, … gây phá vỡ cấu trúc mạng).
Để chống lại kiểu tấn công này ta sử dụng tính năng DHCP Snooping trên switch như sau :
Bật tính năng DHCP Snooping trên switch : (config)# ip dhcp snooping
Bật tính năng DHCP Snooping trên VLAN : (config)# ip dhcp snooping vlan [number]
Qui định trust ported và untrusted port : (config-if)# ip dhcp snooping trust
Qui định tần suất DHCP messages trên untrusted port để giới hạn số HDCP requests mà Attackers có thể gửi đi trong 1 giây : (config-if)# ip dhcp snooping limit rate
Một kiểu tấn công khác vào DHCP server là Attactker dựng một Client PC và liên tục gửi request cấp cấu hình IP đến DHCP Server với mỗi MAC khác nhau cho 1 request. Việc này dẫn đến vùng IP range trong segment đó sẽ bị Attacker chiếm dụng hết và DHCP Server không thể cấp cấu hình IP cho các Client thật sự. Để chống lại kiểu tấn công này ta sử dụng tính năng port security trên switch.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

Quá trình trao đổi dữ liệu giữa hai máy

Tác giả: Đặng Quang Minh

Tài liệu tham khảo cho học viên CCNA của VnPro


Máy A muốn liên lạc với máy X,phải biết IP address của nó (hoặc hostname/domainname).Máy A dò trong ARP cache để tìm địa chỉ MAC đích có chưa,nếu chưa sẽ dùng ARP gửi thông điệp (broadcast) đến tòan mạng .

Có 2 trường hợp:

1/ Host X cùng segment với nó :

Host A gửi thông điệp với địa chỉ IP đích (đã biết) và MAC đích là FF-FF-FF-FF-FF-FF để hỏi xem MAC của địa chỉ này là gì.Các host trên segment đều nhận và xử lý gói này ,host nào có địa chỉ IP trùng với yêu cầu sẽ gửi lại thông tin cho host A là "IP này có MAC là : ......".Host A nhập thông tin vào ARP cache (RAM).Khi muốn liên lạc với X thì lại tra trong ARP cache để biết địa chỉ MAC cần đến.

 
ARP là gì?
Trong protocol TCP/IP có ARP protocol. ARP tự động cập nhật các MAC tương ứng với các IP và xây dựng một bảng ARP table trong máy tính trong cùng mạng subnet.

Khi này , nếu A và X ở trong cùng LAN, thì khi A muốn gửi packet cho X, no' sẽ match IP của X với MAC tương ứng trong bang ARP của no'.
Nếu A biết IP của X , nhưng không match được MAC tương ứng trong bang ARP của no' , thì khi này nó sẽ gứi một packet , gọi là ARP request, với địa chỉ MAC broadcast FFFFFFFFFF . Khi này tất cả máy tính trên cùng một mạng sẽ nhận được gói này và chuyển lên lớp Network; nhưng chỉ có máy có IP match với IP destination address trong ARP request mới gửi trả lại gói tin có chứa dia chỉ MAC tương ứng mà máy A muộn tìm . Gói tin này là ARP reply.

Khi đó gói tin ARP request sẽ có MAC nguồn là MAC của A, MAC đích là FF-FF-FF-FF-FF-FF.

Nếu Host X available trên Segment thì nó sẽ biết là gói tin này gửi cho nó nhờ vào địa chỉ IP mà Host A ghi trong gói tin ARP request và nó sẽ trả lời bằng 1 gói tin ARP reply. Gói tin ARP reply sẽ có MAC nguồn là MAC của Host X, MAC đích là MAC của Host A, khi Host A nhận được gói tin này tự nhiên sẽ biết được MAC của X.


Sau khi A nhận được ARP reply , nó sẽ mở gói và update bảng ARP table của nó: IP và MAC của máy X.

2/ Host X không cùng segment với host A :

lúc đó phải nhờ đến router để forward yêu cầu này đến các segment khác. Trong trường hợp này, router sẽ gửi địa chỉ MAC của interface mà nhận gói ARP request trên Router cho máy gửi ( máy A ).

Một cách khác để liên lạc với một máy tính khác không cùng nằm trên 1 segment là  "default gateway". Default Gateway là một phần của một host (máy tính). Nó là một địa chỉ IP của một interface trên router, và được cấu hình cho host. Địa chỉ IP của host và của Default Gateway phải cùng segment mạng. Khì này, máy gửi (A) sẽ kiểm tra xem nó và máy nhận (B) có cùng nằm trên một subnet hay không. Nếu không, nó sẽ đóng gói packet gửi với IP destination address là của máy nhận và MAC address destinaiton là của Router nối với subnet của nó.

Nếu Proxy ARP hay default gateway không được cấu hình, thì không có "traffic" nào có thê rời khỏi một subnet (một mạng cục bộ). Phải có một trong hai cái được cấu hình ( hay cho phép) để có thể giao tiếp với các segment mạng khac được.

"IP source và dest không bao giờ thay đổi, chỉ có MAC source và dest là thay đổi thôi".


Proxy ARP: Theo cách thức hoạt động của proxy ARP, ta có thể thấy rằng client khi muốn biết MAC của một host nào đó, nó chỉ đơn giản là broadcast ARP-Request lên mạng. Router sẽ có trách nhiệm đáp trả lại bằng ARP-Reply nếu nó nhận thấy IP-destination là thuộnc mạng khác. Như vậy, cấu hình IP cho client cực kỳ đơn giản, nhưng gánh nặng lại đè lên router. Thử tưởng tượng cứ sau 1p', ARP-entry bị hủy bỏ, thế là các client thi nhau broadcast lên mạng thì router "tiêu" như chơi. Ngoài ra, proxy ARP còn gặp một bất lợi nếu trong segment có tới hơn 1 router. Chọn router nào, nếu như các router đều có route đến mạng đích?

Default-Gateway: Nếu client biết rằng IP-dest không thuộc mạng của nó, nó dùng MAC của default-gateway để gửi gói tin, router default-gateway nhận lấy gói tin sẽ biết phải xử lý tiếp theo như thế nào (dựa trên IP source/destination). Cách này giảm tải cho router, giải quyết được trường hợp có nhiều router nối vào cùng segment, và đỡ gây nhầm lẫn.

Nếu Host A có cấu hình sử dụng Defaul gateway trong TCP/IP protocol thì gói tin ARP request sẽ không phải dạng Broadcast mà được gửi thẳng đến cho Router ( TCP/IP stack quy định như vậy). Tất nhiên để gửi được gói tin này đến cho Router thì nó cũng phải request MAC của defaul gateway trên Router trước, sau đó khi có MAC của default gateway thì Host A sẽ tạo 1 gói tin ARP request MAC của Host X với IP đích là IP Host X, MAC đích là MAC của default gateway.

Khi Router gateway nhận được gói tin này thì nó sẽ Forward qua interface trên segment thích hợp, tại đây phần Datalink header sẽ được lấy ra (Pull out) và phần Datalink header mới sẽ được gắn vào với mục đích để truyền trên Segment của Host B. Khi Host B nhận được gói tin ARP request thì cũng sẽ trả lời lại bằng gói tin ARP reply được gửi đến DF gateway trên Segment của nó. Khi Router nhận được gói tin này cũng làm việc tương tự như khi gửi đi từ Host A (pull out Datalink header, gắn datalink header mới v.v....)

Nếu Host A không có cấu hình default gateway (tất nhiên sẽ broadcast gói tin ARP request) nhưng nếu Router trên Segment của host A có chức năng ARP Proxy thì căn cứ trên IP mà gói tin ARP request yêu cầu ROUTER sẽ so sánh với Routing Table của nó và nhận gói tin này nếu Match trong Routing table, sau đó sẽ forward qua Segment thích hợp. Quá trình tiếp theo tương tự như trường hợp A.

Như vậy : nếu 1 trong 2 default gateway của 2 segment cấu hình sai thì sẽ dẫn đến việc Host A không thể liên lạc được với Host X và ngược lại. Ngoài ra nếu thời gian tồn tại của ARP cache trong memory quá lâu công với việc có thay đổi MAC của DF gateway sẽ dẫn đến việc tạm thời không thể thực hiện ARP request.

Ví dụ minh họa cho các lý thuyết nêu trên:

xin lưu ý các IP cùa source và destination là không thay đổi chỉ có mac là thay đổi thôi. các bạn xem một ví dụ sau để đễ hiểu hơn nhé

máy A-------Router1--------router2--------router3------máy B

đầu tiên máy A đóng gói gói tin như sau

IP nguồn là IP của máy A. IP đích là IP của máy B xuống đến tầng datalink máy A sẽ xem máy B có trong cùng subnet với mình không, trong truờng hợp này là không.

lúc này máy A sẽ dùng :

MAC nguồn là của máy A. MAC đích là mác của interface trên router1 nối với subnet A.

Router1 sẽ xem IP đích có nằm trong subnet của mình hay không trong truờng hợp này là không, lúc này router sẽ dóng gói địa chỉ MAC nguồn là mác cùa interface mà router này nối với router2, mác đích sẻ là mác trên interface của router2, router2 cũng xử lý giống router 1 và chuyển đến router3.

Router3 sẽ xem IP này có nằm trong subnet của mình không, nếu có thì nó sẽ xem xét địa chỉ mac tương ứng với IP này (router3 biết được vì nó tra trong bảng ARP của nó có chứa máy B vì B cùng subnet) ư1ng với IP này router3 xác định đưọc MAC là máy B lúc này máy B nhưng nó vẩn gửi Brodcast đến tất cả các máy trong subnet có máy B nhưng chỉ máy B nhận gói tin vì nó có MAC trùng với MAC đích trong gói tin.

A sẽ gửi 1 gói tin gọi là ARP request (ARP = Address Resolution Protocol) bằng cơ chế broadcast để tất cả các máy đều có thể nhận được gói tin này


Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2015

Sự khác biệt giữa " Người Giỏi " và "Bọn dở hơi "

Dưới đây là những điểm khác biệt cơ bản trong cuộc sống và công việc của người thành công và thất bại, đọc để tránh nhé mọi người:

Người giỏi biến công việc nhàm chán thành tác phẩm, sau đó thưởng thức chúng. Bọn dở hơi biến tác phẩm thành công việc sau đó cặm cụi làm.

Người giỏi đi trễ nhưng sẵn sàng giải quyết và hoàn thành công việc bất kể giờ giấc nào, bất kể giá nào. Bọn dở hơi đi rất đúng giờ nhưng lãng công.

Người giỏi quản lí trên thành quả. Bọn dở hơi điểm danh.

Người giỏi giao việc và tin tưởng, bọn dở hơi liên tục để ý rình mò nhưng không có phát kiến.

Người giỏi đánh giá thành công và thất bại. Bọn dở hơi bói móc và truyền cảm hứng lo sợ.

Người giỏi biết tưởng thưởng người khác và lơ đi lỗi lầm của kẻ khác. Bọn dở hơi bới móc ra lỗi và liên tục cướp công.

Người giỏi nhân hậu trong mọi công việc. Bọn dở hơi tàn nhẫn trong mọi mối quan hệ.

Người giỏi im lặng. Bọn dở hơi nguyền rủa.

Người giỏi trung thực, trung dung. Bọn dở hơi nịnh nọt, xu thời.

Người giỏi nói ra ý của mình. Bọn dở hơi nói ý của lãnh đạo, hoặc mượn lãnh đạo để nói ý của mình.

Khi một lãnh đạo ra đi. 
Người giỏi tưởng nhớ. Bọn dở hơi chửi rủa.
Người giỏi nhìn về khó khăn của tương lai và khắc phục nó. Bọn dở hơi nhìn vào thành công quá khứ, và liên tục nhai lại.

Người giỏi tĩnh lặng. Bọn dở hơi chạy lăng xăng.

Người giỏi có vẻ biết rất ít nhưng biết chắc. Bọn dở hơi cái gì cũng có
vẻ biết.

Người giỏi sử dụng người giỏi hơn mình và biết cách dùng. Bọn dở hơi luôn muốn sử dụng người dở hơn hắn và trù dập.

Người giỏi tin vào mình. Bọn dở hơi muốn người khác tôn vinh.
Khi cho một tí quyền hành. Người giỏi tìm giải pháp. Bọn dở hơi tìm vây cánh và triệt tiêu sự phát triển.

Người giỏi đề cao sáng tạo. Bọn dở hơi đề cao sự làm lụng.

Người giỏi biến một công nhân thành nghệ sĩ. Bọn dở hơi cố biến một nghệ sĩ thành công nhân.

Người giỏi yêu cuộc sống. Bọn dở hơi hoang mang và cố chiếm đoạt cuộc sống của người khác.

Người giỏi nhìn vào chính mình. Bọn dở hơi rình mò người khác và bới móc.

Người giỏi biến việc lớn thành việc nhỏ. Bọn dở hơi thổi phồng việc nhỏ thành việc lớn.

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

How to learn speak english

i have try defferent way, how to lean engling well, but i cant not revice result good. why why why ??? who can give me answer, i try ...

New word duolingo

Purple : mau tim
brown : mau nau
color : mau sac ; colorful : sac so
horse : con ngua
turtle : con rua
bird : con chim
elephant : con voi
duck : con vit
sandwich : banh mi kep
bread : banh mi
bear : con gau
crab : con cua
mouse : con chuot
shirt: ao so mi
skirt: vay
dress : vay dam ( so nhieu dresses)
coat :ao choang
pants : quan dai ( doc la pen t )
suit : do tay hay vec
clothes : quan ao
without : khong co
 
i read about you in the newpaper

meal : bua an
today, tomorrow, tonight, night, morning, afternoons, time
calendars, monday, tuesdays, wednesdays, 
saturday, sunday, years, age, week, month, hour
january, february, march, april, may, june, july
august, september, october, november, December 
summer, fall, period, minutes, centuries, party, stages, 
births, moment, evening, fairs, decade, second, bit, until

fair : hoi cho
root : goc
heart : trai tim
period : giai doan thoi ky
stage :san khau , doan
century: the ky, 100 nam
decade : thap ky 10 nam
parent: bo me
son: con trai
daughter: con gai
brother: anh em trai
sister: chi em gai
husband: chong
uncle : chu bac
aunt: co gi
marriage : su ket hon, su cuoi
sibling : anh em ruot

nghe nghiep
author: tac gia
model : nguoi mau . My sister is a model.
director: giam doc, nguoi chi huy
career : nghe nghiep
artist :nghe si
secretaries: tro ly, thu ky
attorney : nguoi duoc uy quyen truoc toa
professional : chuyen gia
judge: quan toa
writer: nha van
officer : si quan quan doi
guards: bao ve
actors: dien vien
captain: thuyen truong
boss: ong chu
weiter: boi ban

adjective : tinh tu

bilingual : thanh thao 2 thu tieng
local : thuoc noi dia, dia phuong
general : chung, tong quan
real : thuc
private: ca nhan, rieng tu
personal :ca nhan
clean: sach se
recent : vua moi xay ra, xay ra gan day
possible : co the lam duoc
popular : pho bien
whole : toan bo, day du, nguyen ven
necessary : can thiet
military : thuoc quan doi
independent : khong phu thuoc
Modern : hien dai
positive : lac quan, xac thuc, ro rang
minimum: it nhat
traditional : theo truyen thong
religious : tin nguong, ton giao
serious : nghiem trong
negative : bi quan
familiar : nguoi quen
efficient : co nang luc
probably: hu nhu, chac chan
becareful driving : lai xe can than
are you at home or some where ?